Chưa đăng nhập | Thảo luận cho địa chỉ IP này | Đóng góp | Mở tài khoản | Đăng nhập | Viết nháp

Trang chính | Thảo luận Đọc | Xem mã nguồn | Xem lịch sử | Khác
Hiển thị các bài đăng có nhãn Wikipedia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Wikipedia. Hiển thị tất cả bài đăng

Niệu đạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigationJump to search
Niệu đạo
Female and Male Urethra.jpg
Niệu đạo chuyên chở nước tiểu từ bọng đái ra ngoài cơ thể. Trong hình là (a) niệu đạo nữ và (b) niệu đạo nam.
Chi tiết
Tiền thânUrogenital sinus
Động mạchInferior vesical artery
Middle rectal artery
Internal pudendal artery
Tĩnh mạchInferior vesical vein
Middle rectal veins
Internal pudendal veins
Dây thần kinhPudendal nerve
Pelvic splanchnic nerves
Inferior hypogastric plexus
Bạch huyếtInternal iliac lymph nodes
Deep inguinal lymph nodes
Định danh
Latinhurethra vagina; feminina (phái nữ); urethra masculina (phái nam)
Tiếng Hy Lạpοὐρήθρα
MeSHA05.360.444.492.726
Dorlands
/Elsevier
Urethra
TAA08.4.01.001F
A08.5.01.001M
FMA19667
Thuật ngữ giải phẫu
[sửa trên Wikidata]
Niệu đạo là một bộ phận của hệ tiết niệu, nó là một ống dài nối từ bàng quang ra lỗ sáo (lỗ tiểu) để đưa nước tiểu ra ngoài.[1] Ngoài ra ở đàn ông và động vật giống đực, nó còn có vai trò trong việc dẫn tinh dịch ra ngoài.

Mục lục

  [xem] 

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

a) Niệu đạo nữ:
  • 1 chức năng: dẫn nước tiểu
  • dài khoảng 3–5 cm
  • Lỗ niệu đạo ngoài: chỗ hẹp nhất của niệu đạo, nằm giữa 2 môi bé sau âm vật trước lỗ âm đạo
b) Niệu đạo nam:
  • 2 chức năng: dẫn nước tiểu và dẫn tinh
  • dài khoảng 18–20 cm (gấp 6 lần nữ)
  • 4 đoạn
    • Niệu đạo trước tiền liệt:
      • 1-1,5 cm, nằm trong cổ bàng quang
      • Chỉ tồn tại hi bàng quang đầy
    • Niệu đạo tiền liệt:
      • 2,5-3 cm, là phần giãn to nhất của niệu đạo
      • Có nhiều ống tuyến tiền liệt đổ vào
    • Niệu đạo màng:
      • 1,2 cm. Ngắn nhất và hẹp nhất
      • Từ mặt dưới tiền liệt tuyến đến hoành niệu dục
    • Niệu đạo xốp:
      • Đoạn dài nhất 12-15 cm
      • Đi trong hành xốp dương vật và ra lỗ niệu đạo ngoài [2]

Một số bệnh liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Viêm niệu đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Viêm niệu đạo là tình trạng nhiễm trùng ở niệu đạo do sự xâm nhập của các loại vi khuẩn mà chủ yếu là vi khuẩn E.coli. Viêm niệu đạo gây nên cảm giác nóng rát khi đi tiểu, đôi khi tiểu có mủ. Với nam giới, viêm niệu đạo có thể gây nên ra mủ ở lỗ sáo. Viêm niệu đạo không những gây ảnh hưởng tới việc bài tiết nước tiểu và tinh dịch, gây ra nhiều những rắc rối trong sinh hoạt của người bệnh mà nó còn là nguy cơ dẫn tới xuất tinh sớm, viêm bàng quang hay viêm tuyến tiền liệt, thậm chí là suy thận mãn tính hay vô sinh ở nam giới. Còn ở nữ giới, nếu bệnh để lâu ngày có thể dẫn tới vô sinh nữ do vòi dẫn trứng bị tắc.[3]
Nguyên nhân
Những nguyên nhân chủ yếu là[1]:
  • Do việc vệ sinh không sạch sẽ, không đúng cách khiến cho các vi khuẩn từ bên ngoài xâm nhập vào và gây viêm tại niệu đạo.
  • Quan hệ tình dục không an toàn là một trong những nguyên nhân gây ra bệnh viêm niệu đạo và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Do sử dụng các loại dung dịch vệ sinh, các loại xà phòng có nồng độ pH cao để sử dụng xịt rửa vùng kín.
  • Đối với nam giới có thể bị viêm niệu đạo do sự tác động cơ học như nong niệu đạo, đặt ống thông tiểu sau phẫu thuật đường tiểu, thăm dò bàng quang, sau tán sỏi,…
  • Đối với nữ giới do cấu tạo niệu đạo ngắn hơn của nam giới nên các vi khuẩn dễ dàng xâm nhập và gây bệnh.
Nguyên nhân gây viêm niệu đạo ở nữ giới
Có nhiều nguyên nhân khiến nữ giới bị mắc viêm niệu đạo nhiều hơn nam giới:
  • Thứ nhất, do hệ thống tiết niệu có cấu tạo tương đối đặc biệt, niệu đạo của nữ giới ngắn, thẳng và rộng hơn nam giới, chỉ có 3–4 cm, nên vi khuẩn dễ dàng xâm nhập. Khoảng cách giữa lỗ niệu đạo với âm đạo và hậu môn của nữ giới lại rất gần, bất kể là ở xung quanh âm đạo hay hậu môn đều có một lượng lớn vi khuẩn, dịch âm đạo cũng là một cơ sở tương đối tốt tạo điều kiện cho vi khuẩn sinh sôi.
  • Thứ hai, là do phụ nữ có những giai đoạn sinh lý đặc biệt, gồm kinh nguyệt và thời kỳ mang thai. Vệ sinh kém trong thời kỳ kinh nguyệt có thể là tác nhân gây viêm niệu đạo. Phụ nữ trong thời kỳ mang thai tử cung nở to sẽ đè lên bàng quang và ống dẫn niệu, thay đổi nội tiết cũng khiến ống dẫn niệu nở ra, co bóp chậm lại, làm cho nước tiểu chảy chậm hoặc hình thành tích dịch nhẹ. Đây chính là điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập, sinh sôi và gây bệnh.[3]
Cách phòng tránh viêm niệu đạo ở nữ giới
Bí quyết phòng tránh viêm niệu đạo nữ: Uống nhiều nước để đi tiểu nhiều hơn.
Nhiều bệnh nhân không dám uống nhiều nước vì viêm niệu đạo gây khó tiểu và nhiều triệu chứng khó chịu khi đi tiểu như nóng, rát, buốt... Điều này khiến cho nhiều người nhịn tiểu liên tục. Tuy nhiên, thường xuyên nhịn tiểu gây ra 2 hậu quả. Thứ nhất, thời gian nước tiểu chứa trong bàng quang dài, có một số vi khuẩn xâm nhập vào bên trong sẽ càng có nhiều thời gian sinh sôi và tấn công các bộ phận. Thứ hai, bàng quang căng đầy, áp lực tăng cao, nước tiểu sẽ ngược lên trên đến ống dẫn niệu, nếu vi khuẩn đã tấn công sẽ rất dễ xâm nhập lên trên dẫn đến viêm bể thận. Bởi vì nước tiểu có một vai trò rất quan trọng là đưa vi khuẩn ra ngoài cơ thể, vì vậy bạn nên uống nhiều nước để đi tiểu nhiều hơn.[3]

Tham khảo

Nguồn : https://vi.wikipedia.org/wiki/Ni%E1%BB%87u_%C4%91%E1%BA%A1o

By Wikipedia | | A comment?

Nam giới

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigationJump to search
Biểu tượng nam giới
Nam giới, ngược với nữ giới, là những người có giới tính nam (giống đực), được xác định ngay từ khi mới sinh thông qua cấu tạo cơ thể có bộ phận sinh dục nam[cần dẫn nguồn].
Dưới góc độ sinh lý học, sự xác lập giới tính bào thai được xác lập ngay từ khi thụ thai, với tinh trùng của người đàn ông mang nhiễm sắc thể X hoặc Y kết hợp với trứng của người phụ nữ mang sắc thể X, để tạo ra bào thai có mang nhiễm sắc thể XX (giống cái) hoặc XY (giống đực). Vì thế, để sinh được con trai, vấn đề phụ thuộc hoàn toàn vào việc tinh trùng thuộc loại nào (X hay Y) sẽ kết hợp được với trứng trước.

Mục lục

  [xem] 

Khác biệt với nữ giới[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt giải phẫu và sinh lý học[sửa | sửa mã nguồn]

Bức tượng David của Michelangelo là hình ảnh tiểu biểu về vẻ đẹp của nam giới trong nghệ thuật phương Tây.
Ở đàn ông, có sự khác biệt về chiều dài, bề dày của dương vật, và kích cỡ cùng hình dạng của bìu dái. Bộ phận sinh dục nam dương vật là bộ phận bên ngoài chủ yếu của nam giới, nó có chức năng sinh sản khi đưa tinh trùng vào âm đạo của nữ. Nó cũng là bộ phận tiểu tiện của đàn ông, giống như bộ phận sinh dục của nữ, kích thước và hình dạng của dương vật cũng thay đổi tùy theo người. Ở người lớn, trong tình trạng mềm, hầu hết dương vật đo được khoảng 5,5 đến 9 cm và khi cương cứng thì trung bình là 7 đến 12 cm. Đường kính trung bình của dương vật là 2,5 cm và khi cương cứng là 3 cm.

IQ[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1999, một nghiên cứu của Richard Lynn, giáo sư danh dự tại Đại học Ulster phân tích số liệu từ một số bài test được xuất bản trước đó và phát hiện ra rằng chỉ số IQ trung bình của nam giới cao hơn của nữ giới khoảng 3-4 điểm IQ.[1] Các phân tích quy mô lớn của Lynn thực hiện năm 2004 khảo sát sự khác biệt giới cũng chỉ ra nam giới có chỉ số IQ trung bình cao hơn nữ là 5.0 điểm IQ.[2]
Do vậy, nam giới phù hợp với những nhiệm vụ có độ phức tạp cao hơn là phụ nữ. Số đàn ông có chỉ số IQ cao sẽ lớn hơn rất nhiều so với phụ nữ, Richard Lynn cho biết số đàn ông có IQ cao hơn 130 nhiều gấp 3 lần so với phụ nữ, và số đàn ông có IQ cao hơn 145 nhiều gấp 5,5 lần so với phụ nữ. Điều này giải thích tại sao phần lớn các thành tựu lớn như giải Nobel, các phát minh khoa học hoặc các Đại kiện tướng cờ vua luôn thuộc về nam giới[3].

Vị thế trong gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Trải qua nhiều chế độ khác nhau của lịch sử vị thế của nam giới trong gia đình cũng có sự thay đổi rất rõ rệt:
+ Trong xã hội nguyên thủy, việc làm chủ yếu của con người lúc đó là: săn bắt thú dành cho đàn ông và hái lượm hoa quả dành cho đàn bà. Vì công việc săn bắn có lúc được lúc không, còn việc hái lượm luôn mang lại nguồn thức ăn dồi dào nên nam giới trong thời kỳ này không hề có quyền lực trong gia đình, con cái lấy theo họ mẹ.
+ Khi việc sử dụng công cụ bằng kim khí đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ, việc cày bừa nông nghiệp mang lại hiệu quả rất cao, vượt xa việc hái lượm từ thiên nhiên. Đàn ông với sức khỏe thể chất tốt phù hợp hơn với công việc này và giành lấy quyền lực, vị thế trong gia đình, đóng vai trò trụ cột, quyết định, con cái lấy theo họ cha và còn tồn tại cho tới ngày nay.
+ Khi xã hội tư bản hình thành và phát triển, giai cấp tư sản làm chủ trong thời gian đó, vai trò của nông nghiệp nhường chỗ cho công nghiệp. Xã hội vẫn ưu tiên cho nam giới hơn vì nam giới làm được nhiều việc hơn so với nữ giới, nhất là các công việc đòi hỏi sức khỏe như thợ máy, thợ mỏ...
+ Trong chủ nghĩa xã hội hiện nay, "bình đẳng giới" được coi trọng, nam và nữ ngang nhau về mọi mặt. Tuy nhiên đó là mặt quy định pháp luật, còn thực tế về mặt tư duy, trí tuệ và sức khỏe thì nam giới vẫn vượt trội hơn hẳn so với nữ giới. Đó là đặc điểm tự nhiên không thể thay đổi được, do đó các nhân vật xuất chúng (nhà khoa học, lãnh tụ, tướng lĩnh...) vẫn thường là đàn ông.

Bình đẳng nam nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử loài người, sau khi chế độ mẫu hệ tàn lụi, hầu hết các nền văn hóa đã theo chế độ phụ hệ, với sự đề cao các quyền lợi của nam giới. Theo đó nam giới luôn là những người lãnh đạo bộ lạc, dân tộc, quốc gia v.v. và mọi của cải đều truyền cho con trai với ý nghĩa "quyền huynh thế phụ"[4]. Quan niệm Nho giáo tại các nước phương Đông cũng nhấn mạnh thêm vai trò thống trị tuyệt đối của nam giới, "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô"[5]. [cần dẫn nguồn]
Hiện nay nền văn minh nhân loại đang hướng tới bình đẳng nam nữ với sự đề cao quyền bình đẳng trong xã hội của nữ giới tương đương nam giới. Tuy nhiên, những đặc điểm tự nhiên về giới tính được hình thành qua hàng triệu năm tiến hóa thì không thay đổi[6]:
  • Nam giới có xu hướng hành động nhanh chóng, quyết đoán, trong khi phụ nữ có xu hướng thụ động, bị cảm xúc chi phối.
  • Phụ nữ yếu hơn nam giới về thể chất, bởi vì trong hàng triệu năm tiến hóa phụ nữ không thực hiện nhiệm vụ yêu cầu cao về thể chất như nam giới (phụ nữ hái lượm, nam giới săn thú).
  • Chức năng não: phụ nữ nói nhiều hơn, trong khi nam giới được định hướng nhiều hơn cho hành động. Nam giới học toán (tư duy logic học) tốt hơn, còn phụ nữ tư duy ngôn ngữ tốt hơn (do họ nói nhiều hơn)
  • Phụ nữ luôn có xu hướng tìm kiếm một người đàn ông mạnh mẽ để đạt được sự bảo vệ
  • Nam giới có tinh thần sắn sàng đối mặt với thử thách cao hơn phụ nữ.
Quyền lực và sự kiểm soát là động cơ xã hội thực sự đằng sau việc phân chia các vai trò giới tính, thông qua phân công lao động. Không chỉ đơn giản là sự khác biệt về quan niệm xã hội, các đặc điểm tự nhiên đem lại ưu thế cho nam giới (sức khỏe, tư duy logic, mức độ tập trung trí óc đều tốt hơn phụ nữ), vẫn thường thấy xu thế nam giới nổi trội rõ rệt trong các công việc phức tạp như nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nghệ nhân... Ngay cả với những công việc thường được dành cho phụ nữ (nấu ăn), các cá nhân nổi bật nhất (đầu bếp chuyên nghiệp) vẫn thường là đàn ông.[6]
Theo nghiên cứu của Đại học Harvard, ngay cả trong các xã hội và tổ chức đánh giá cao bình đẳng giới, phụ nữ chiếm tỷ lệ thấp ở hầu hết các vị trí lãnh đạo cao cấp. Phụ nữ chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 5% trong số 500 CEO hàng đầu thế giới, nhỏ hơn 20% trong số các nhà khoa học tự nhiên. Theo nghiên cứu này, "những thứ chiếm lĩnh những suy nghĩ thường lệ, những thứ mà bạn quan tâm sâu sắc, hoặc những thứ thúc đẩy hành vi và quyết định" đã tạo ra sự cách biệt thành công giữa phái nam và nữ, theo đó nam giới được thúc đẩy bởi chiếm lĩnh quyền lực, trong khi phụ nữ lại muốn tạo dựng quan hệ gần gũi với người khác và thường gặp mâu thuẫn tâm lý khi theo đuổi mục tiêu lâu dài nào đó[7].

Vai trò giới[sửa | sửa mã nguồn]

Các tổng thống của Hoa Kỳ gồm: George H. W. Bush, Barack Obama, George W. Bush, Bill Clinton, và Jimmy Carter. Dù không có đạo luật nào dành riêng vị trí tổng thống cho nam giới nhưng tất cả các tổng thống của Hoa Kỳ đến nay đều là nam giới.
Lịch sử nhân loại đến ngày nay vẫn được đánh dấu bởi sự thống trị của nam giới trong chính trị, gia đình, khoa học... Nhiều tôn giáo trên thế giới thuyết giáo về sự thống trị của nam giới. Về mặt sinh học, nam giới có những ưu thế về thể chất và trí tuệ so với nữ giới, do đó số lượng các nhân vật xuất chúng là nam giới luôn vượt trội so với nữ giới. Theo thống kê, tỉ lệ thiên tài trên thế giới bao gồm các nhà khoa học, nhà văn, chính trị gia, họa sĩ, nhà soạn nhạc... đều nghiêng vượt trội về phía nam giới[8].
Có nhiều vai trò chỉ dành riêng cho nam giới. Ví dụ như chức vị Giáo hoàng trong Giáo hội Công giáo Rôma chỉ dành riêng cho nam giới hay các vị trí tối cao là quốc vương của một quốc gia (vua trong trường hợp là nam) thời phong kiến trong các quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến thường được ưu tiên cho nam giới. Hoặc những công việc chỉ nam giới mới có thể làm được như hoạn quan (thái giám)...
Hình mẫu người đàn ông tốt hay một chàng trai tốt, một người tốt là thuật ngữ được nhắc đến nhiều trong công luận nói chung, trong xã hội, báo chí và trong văn hóa đại chúng mô tả một người nam trưởng thành hoặc thanh niên với những đặc điểm tính cách thân thiện, tốt bụng nhưng không quá quyết đoán, lấn át trong bối cảnh của một mối quan hệ với một người phụ nữ.[9]
Ngày 19 tháng 11 hàng năm là Ngày Quốc tế Nam giới.

Tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Việt có nhiều từ dùng để chỉ nam giới. Để gọi khái quát có thể có các từ "nam", "đàn ông"; gọi nam giới còn trẻ tuổi có thể là "con giai", "con trai", "giai" "nam thanh niên"; gọi người cao tuổi có thể dùng các từ "ông già", "cụ già", "lão già"; nói về nam giới với ý nghĩa hơi mỉa mai, tếu táo có thể gọi "đực rựa", "đực"; gọi trong tương quan với nữ giới và có chút ngữ nghĩa văn chương có thể gọi là "phái mạnh" hay "đấng mày râu".
Trong xưng hô ngôi thứ ba, nam giới được gọi bằng các từ "thằng", "thằng ấy", "đực rựa", "cậu", "ông", "bố", "chú", "bác" v.v.
Nguồn : https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_gi%E1%BB%9Bi

By Wikipedia | | A comment?

Dây thắt lưng


Dây thắt lưng (hay dây nịt) là dải vải, da hay nhựa dùng thắt ngang lưng quần để giữ quần được chặt hơn. Một tác dụng khác của đay thắt lưng là dùng cho mục đích thời trang. Dây thắt lưng có thể tạo nhiều hình dạng màu sắc cũng như có nều các khác nhau để khóa thắt lưng, như cài, móc, chốt, khóa giữ,...
Các loại thắt lưng khác nhau

Mục lục

 [xem] 

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Có hai thành phần chính của một chiếc thắt lưng là thắt lưng và khóa

Các hãng sản xuất thắt lưng[sửa | sửa mã nguồn]

Một số các hãng nổi tiếng sản xuất thắt lưng:
  • Mango
  • Louis Vuitton
  • Gucci
  • Levi's
Nguồn : https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2y_th%E1%BA%AFt_l%C6%B0ng

By Wikipedia | | A comment?

Sốt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigationJump to search
Một cặp nhiệt độ đo được nhiệt độ là 38.7 °C
Sốt là dấu hiệu y khoa thông thường đặc trưng bởi sự gia tăng nhiệt độ cơ thể cao hơn khoảng dao động bình thường của nhiệt độ cơ thể người là 36.5–37.5 °C (98–100 °F).[1]
Sốt thường là đáp ứng của cơ thể với một bệnh nhiễm trùng, thường kéo dài hơn 2 đến 3 ngày. Ngoài ra, sốt còn có thể do những bệnh không nhiễm trùng khác, tiếp xúc với nước nóng, tập thể dục, sau chích ngừa hoặc khóc nhiều cũng làm tăng thân nhiệt.

Mục lục

  [xem] 

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Sốt là triệu chứng thông thường của nhiều bệnh:
  • Các bệnh truyền nhiễm như cúm, HIV hoặc sốt rét
  • Các loại viêm khác nhau như nhọt, mụn, trứng cá, hoặc áp xe
  • Các bệnh tự miễn như lupus đỏ, Sarcoidosisban, sarcoidosis
  • Cơ thể phản ứng với sự bất tương hợp giữa các nhóm máu
  • Ung thư
  • Các bệnh rối loạn tiêu hóa như gút or bệnh ma cà rồng (porphyria)
  • Truyền protein lạ vào cơ thể để gây sốt nhầm mục đích điều trị
  • Tiêm muối dưới da hay tiêm bắp gây ưu trương dẫn đến hủy hoại tổ chức và gây sốt.
Sốt dai dẳng mà hiện nay y học vẫn chưa tìm được nguyên nhân được gọi là sốt không rõ nguồn gốc.

Các giai đoạn của sốt[sửa | sửa mã nguồn]

Sốt gồm ba giai đoạn:
  • Sốt tăng: tăng sản nhiệt, giảm thải nhiệt làm nhiệt độ bên trong cơ thể cao hơn nhiệt độ môi trường. Lúc này, bệnh nhân cảm thấy ớn lạnh, rét run, giảm đổ mồ hôi, da khô và nóng,...
  • Sốt đứng: tỉ lệ sản nhiệt/thải nhiệt = 1, cơ thể vẫn còn lạnh nhưng đã đỡ hơn, thân nhiệt vẫn cao, da khô, không đổ mồ hôi và ít đi tiểu
  • Sốt lui: sản nhiệt giảm, thải nhiệt tăng, lúc này cơ thể bệnh nhân vã mồ hôi nhiều, tiểu nhiều, nền nhiệt cơ thể hạ xuống, cảm thấy nóng

Cơ chế gây sốt[sửa | sửa mã nguồn]

Yếu tố trực tiếp gây ra cơn sốt trong cơ thể là các chất gây sốt nội sinh - là một loại protein được hình thành bên trong cơ thể. Ngày nay người ta đã tìm ra 11 chất gây sốt nội sinh, trong đó phổ biến nhất là các loại interleukin.
Quá trình diễn ra sốt bắt đầu từ lúc tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể và tiết ra các chất gây sốt ngoại sinh (độc tố của vi sinh vật, bản thân tác nhân lạ,...). Chất gây sốt ngoại sinh kích thích các đại thực bào và bạch cầu trung tính tiết ra chất gây sốt nội sinh. Chất này tác động lên trung tâm điều nhiệt của cơ thể làm trung tâm này hoạt hóa acid arachidonic, làm sản sinh monoamin gây thay đổi setpoint (điểm đặt nhiệt) dẫn tới tăng sản nhiệt và giảm thải nhiệt toàn cơ thể, gây ra cơn sốt.
Một con đường khác bắt đầu khi các lympho T kết hợp với kháng nguyên, sẽ tiết ra lymphokin kích hoạt bạch cầu đa nhân và đại thực bào tíết ra chất gây sốt nội sinh. Các diễn tiến tiếp sau đó là tương tự.

Các rối loạn trong sốt[sửa | sửa mã nguồn]

Rối loạn chuyển hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thoái hóa glucid diễn ra mạnh mẽ, tăng phân giải glycogen để làm tăng đường huyết, nếu sốt kéo dài sẽ tích nhiều acid lactic gây toan hóa máu
  • Thoái hóa lipid, protid cũng được tăng cường để đáp ứng nhu cầu cơ thể, tạo ra nhiều sản phẩm trung gian gây hại cho nội môi
  • Ngoài ra, cơ thể còn đòi hỏi các vitamin B và C, hormon aldosterol và ADH,...

Rối loạn các cơ quan[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tăng nhịp tim, tần số mạch đập
  • Tăng thông khí, thở nhanh và sâu
  • Ăn uống không ngon miệng do giảm tiết men và giảm co bóp ống tiêu hóa
  • Đa niệu trong giai đoạn sốt tăng và sốt lui, thiểu niệu trong giai đoạn sốt đứng.
  • Tăng ACTH, tăng chức năng gan, tăng hệ miễn dịch

Các loại sốt[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sốt liên tục: sốt cao kéo dài qua các ngày, thường gặp trong sốt thương hàn, viêm phổi
  • Sốt ngắt quãng: sốt một ngày sau đó hạ trong trong vài ngày rồi lại sốt trở lại, thường có chu kì gặp trong sốt rét
  • Sốt hồi quy: sốt cao rồi giảm dần, sau đó sốt trở lại, gặp trong nhiễm xoắn khuẩn Lepstopira
  • Sốt dao động: sốt ở một khoảng thời gian nhất định trong ngày, sau đó giảm sốt, gặp trong lao phổi hoặc viêm đường hô hấp trên

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Để điều trị sốt đúng cách cần phải biết nguyên nhân gây ra sốt.
Trong hầu hết các trường hợp, ngoại trừ tăng thân nhiệt, thì acetaminophen hoặc ibuprofen đều có thể làm hạ thân nhiệt. Nên cung cấp thêm dịch cho cơ thể qua đường miệng hoặc tiêm tĩnh mạch để chống mất nước nếu cần thiết.
Sốt do nhiễm siêu vi (sốt siêu vi) có thể tự khỏi. Có thể bệnh nhân sẽ được cho những loại thuốc điều trị những triệu chứng đặc biệt khác. Có thể đó là những loại thuốc làm giảm thân nhiệt, trị nghẹt mũi, giảm đau họng hoặc trị sổ mũi. Virus có thể gây nôn ói và tiêu chảy và cần phải truyền dịch qua đường tĩnh mạch cùng với dùng thuốc để làm chậm lại tốc độ tiêu chảy và nôn ói. Một số ít loại nhiễm siêu vi có thể được điều trị bằng thuốc kháng siêu vi, trong đó có Herpes và influenza virus. Nếu bệnh nhân có thể uống nước được và triệu chứng nhẹ, bệnh nhân có thể về nhà được mà không cần ở lại bệnh viện.
Những bệnh nhiễm vi khuẩn cần phải có loại thuốc kháng sinh đặc hiệu để điều trị tùy thuộc và loại vi khuẩn được tìm thấy và nơi ở của nó trong cơ thể người. Các bác sĩ sẽ xác định xem người bệnh có cần phải nhập viện không hay có thể ra về được. Quyết định tùy thuộc vào bệnh hiện tại và những bệnh kèm theo khác của bệnh nhân.
Hầu hết những trường hợp nhiễm nấm đều có thể được điều trị bằng thuốc kháng nấm.
Sốt do thuốc có thể giảm sau khi ngưng thuốc.
Nếu bị huyết khối thuyên tắc, bạn nên đến bệnh viện và sử dụng thuốc tán huyết.
Đối với bệnh nhân bị sốt do tiếp xúc với nhiệt độ nóng ở môi trường cần phải được làm mát bằng cách cởi bỏ hết quần áo, mở quạt có phun sương, theo dõi sát dấu hiệu sinh tồn.
Nguồn : https://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%91t

By Wikipedia | | A comment?